Thứ tư, ngày 31 tháng 12 , 2008

Những sự kiện TT&TT nổi bật dưới góc nhìn chuyên ngà nh

Những sự kiện TT&TT nổi bật dưới góc nhìn chuyên ngà nh

NHNNHN - Sau khi các nhà  báo uy tín trong lĩnh vực TT&TT đã chọn ra 10 sự kiện TT&TT nổi bật nhất năm 2008, thì đến ngà y 30/12/2008 Bộ TT&TT cũng đã công bố 10 sự kiện TT&TT có tầm ảnh hưởng lớn nhất dưới góc nhìn chuyên ngà nh. Vậy đó là  những sự kiện nà o?

1. VINASAT “ 1, Vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam

Và o 5h17 phút ngà y 19/4/2008, VINASAT “ 1 - vệ tinh đầu tiên của Việt Nam đã được phóng thà nh công lên quử¹ đạo trái đất. Sự kiện nà y đưa ngà nh Viễn thông Việt Nam lên một tầm cao mới, mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực thông tin liên lạc của Việt Nam, khẳng định chủ quyửn của Việt Nam trong không gian vũ trụ, thể hiện một vị thế ngà y cà ng lớn mạnh của đất nước và  của ngà nh TT&TTVN trong bối cảnh hội nhập kinh tế với thế giới.

Cùng với trên 200 nghìn Km cáp quang trên đất liửn và  dưới biển, hệ thống vi ba số hiện đại, dung lượng lớn, nâng cao độ an toà n mạng lưới, thúc đẩy và  phát triển các dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, thương mại, giải trí...cho các vùng lõm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và  đi quốc tế.

2. Bưu chính hoạt động độc lâp

Từ ngà y 1/1/2008, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam chính thức đi và o hoạt động đánh dấu sự kiện lịch sử­ 63 năm xây dựng và  phát triển ngà nh Bưu Аiện (BCVT). Việc chia tách bưu chính, viễn thông thể hiện sự đổi mới trong quản lý, phù hợp với xu thế phát triển của bưu chính, viễn thông và  cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam.

Từ ngà y 1/1/2008 hai ngà nh Bưu chính và  Viễn thông VN được chia tách

Việc chia tách đã tạo điửu kiện cho các doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế một cách vững chắc trong lĩnh vực BC, VT. Tránh sự bù chéo giữa dịch vụ viễn thông và  bưu chính, thúc đẩy cạnh tranh là nh mạnh trong viễn thông, bước đầu tạo môi trường cạnh tranh cho thị trường bưu chính nhằm nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp Việt Nam.

3. Tăng cường kỷ cương trong hoạt động báo chí, xuất bản

Trong một năm đầy những biến động vử KT-XH như năm 2008, báo chí cả nước đã đóng góp rất lớn trong việc thông tin, truyửn thông các giải pháp vử kiửm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, đã phản ánh kịp thời sự chỉ đạo, quản lý, điửu hà nh của Chính phủ, phản ánh nhiửu gương người tốt, việc tốt trong phát triển KT-XH, chống tham nhũng...khẳng định sự quan trọng của mình trong xã hội. 

Bên cạnh nhưng thà nh công, tích cực, năm 2008 báo chí, xuất bản cũng gặp không ít khó khăn.

 Trong cuộc cạnh tranh thông tin, một số cán bộ, phóng viên, biên tập viên đã không giữ được tính khách quan, trung thực, chính xác - những tiêu chuẩn cơ bản nhất của báo chí. Trong hoạt động xuất bản, một số bất cập trong liên kết xuất bản đã là m phát sinh những sai phạm ảnh hưởng tiêu cực đến xa hội.

Trong năm 2008, Bộ TT&TT đã kịp thời xử­ lý nghiêm túc mọi sai phạm của cá nhân và  tập thể được dư luận đồng tình, tăng cường thực hiện kỷ cương trong hoạt động báo chí, xuất bản, giúp các nhà  báo tự tin và  tự chịu trách nhiệm cao hơn trong tác nghiệp.

Cùng với việc Bộ đang tích cực hoà n chỉnh Luật Báo chí sử­a đổi để trình Quốc hội năm 2009. Аồng thời Bộ đã ban hà nh các quy chế quản lý báo chí như: Quy chế phát ngôn, Quy chế cung cấp thông tin, Quy chế thẩm định nguồn thông tin trên báo chí... đưa báo chí nước nhà  sang một thời kử³ phát triển thông thoáng, đưa trách nhiệm nghử nghiệp và  xã hội cao hơn.

4. Nghị định 97/2008/NА-CP vử Internet, bước phát triển vử quản lý Internet

Ngà y 28/8/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hà nh Nghị định 97/2008/NА-CP vử Internet là  bước phát triển đột phátrong quản lý lĩnh vực nà y, khuyến khích việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực của đời sống KT-XH.

Bước đột phá của nghị định nà y, nằm ở cả hai khía cạnh.

 Đối với quản lý nội dung trên Internet, Nghị định xác định quyửn đưa thông tin và  tự chịu trách nhiệm những nội dung đưa lên Internet của người sử­ dụng.

 Đối với việc kinh doanh dịch vụ Internet thì cho phép mọi thà nh phần kinh tế tham gia cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ internet. Mọi doanh nghiệp đửu có quyửn thuê kênh trực tiếp kết nối với Internet quốc tế và  với các trạm trung chuyển Internet, đồng thời buộc các doanh nghiệp cung cấp hạ tầng mạng phải có trách nhiệm cung cấp đường truyửn dẫn, tạo điửu kiện cho các doanh nghiệp không có hạ tầng mạng có thể khai thác dịch vụ Internet băng rộng, Internet Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá của khu vực.

5. Công bố đánh giá, xếp hạng Website  các bộ, địa phương

Báo cáo đánh giá, xếp hạng Website các bộ, địa phương được Bộ TT&TT công bố lần đầu tiên và o tháng 7/2008 dựa trên số lượng truy cập và  cung cấp dịch vụ công đã cho thấy bức tranh khái quát vử mức độ phát triển Website của các cơ quan nhà  nước Việt Nam.

Аây là  một trong những nội dung quan trọng góp phần thực hiện Quyết định số 43/2008/QА-TTg ngà y 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT trong các hoạt động của các cơ quan nhà  nước năm 2008, bản kế hoạch ứng dụng CNTT cấp quốc gia đầu tiên kể từ sau Аử án 112, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, tiến tới xây dựng và  phát triển Chính phủ điện tử­ ở Việt Nam.

Cũng với Quyết định 43/2008/QА-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hà ng loạt văn bản hướng dẫn, tạo hà nh lang pháp lý cho ứng dụng và  phát triển CNTT đã được ban hà nh hướng dẫn. Аó là  các văn bản vử định mức, ứng dụng CNTT, phương pháp định giá phần mửm. Chỉ thị 34/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ vử phát triển, sử­ dụng email, kế hoạch ứng dụng CNTT 2009 “ 2010... Ban chỉ đạo quốc gia vử CNTT và  Ban chỉ đạo CNTT ở các bộ, ngà nh, địa phương được kiện toà n...

6. Trên 1.200 tỷ đồng đầu tư, xây dựng và  duy trì mạng lưới cung cấp dịch vụ viễn thông công ích cho vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo

Trong năm 2008, Bộ Thông tin-Truyửn thông giao nhiệm vụ cho 4 đơn vị: VNPT, Viettel, EVN Telecom, Vishipel với tổng giá trị trên 1.200 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển và  cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trên 189 huyện và  gần 600 xã thuộc vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích. Sản lượng dịch vụ viễn thông được thực hiện gồm: Phát triển mới 600.000 máy điện thoại và  23.810 thuê bao Internet cho các hộ gia đình; Duy trì 1.743.259 thuê bao điện thoại cố định và  26.974 thuê bao Internet; Phát triển mới 574 điểm truy nhập điện thoại công cộng và  624 điểm truy nhập Internet công cộng, duy trì 4.361 điểm truy nhập điện thoại công cộng và  590 điểm truy nhập Internet công cộng; Phát triển mới 1.000 máy thu phát sóng vô tuyến điện HF-công nghệ thoại sử­ dụng cho tà u cá, duy trì 16 đà i thông tin duyên hải phục vụ thông báo bão, lũ, cấp cứu và  tìm kiếm cứu nạn.

7. Năm 2008 là  năm phát triển cao nhất số lượng trạm BTS

Trong năm qua, để đẩy nhanh tiến độ xây dựng và  hoà n thiện mạng lưới viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp viễn thông đã tập trung đầu tư, nâng cấp hệ thống, thiết bị, mở rộng dung lượng mạng. Tính đến hết tháng 11/2008, cả nước đã phát triển mới trên 13.700 trạm BTS, tổng số máy điện thoại trên toà n mạng đạt 79,1 triệu thuê bao (trong đó thuê bao di động chiếm 83,5%, mật độ điện thoại trên toà n quốc đạt 92,6 máy/100 dân.

Kể từ khi mở cử­a thị trường viễn thông Việt Nam, tháng 6/2008, lần đầu tiên, Bộ Thông tin-Truyửn thông chính thức công bố số lượng thuê bao thực của 4 mạng thông tin di động lớn nhất trong nước (Vinaphone, MobiFone, Viettel và  Sfone) với tổng số hơn 48 triệu thuê bao. Trong đó, tỷ lệ thuê bao trả trước chiếm trên 90%.

Аể quản lý và  phục vụ loại hình thuê bao di động trả trước được tốt hơn, trong năm 2008, Bộ Thông tin-Truyửn thông đã hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc đăng ký thông tin cá nhân của thuê bao đang sử­ dụng và  bắt đầu đăng ký sử­ dụng. Cũng để đáp ứng nhu cầu phát triển thuê bao điện thoại cố định trong 50 năm tới, việc quy hoạch lại đầu số điện thoại cố định và  mở rộng số thuê bao đã được triển khai.

8. Quốc hội thông qua Luật sử­a đổi bổ sung một số điửu của Luật Xuất bản.

Năm 2008 là  năm đẩy mạnh xây dựng và  hoà n thiện hà nh lang pháp lý, chính sách cho phát triển ngà nh Thông tin-Truyửn thông với việc Bộ Thông tin-Truyửn thông được Quốc

hội và  Chính phủ giao xây dựng 5 dự án luật để trình Quốc hội khoá XII gồm: Luật Tần số, Luật Bưu chính, Luật Viễn thông, Luật Báo chí (sử­a đổi) và  Luật Xuất bản (sử­a đổi).

Cùng với hệ thống Luật, hà ng loạt văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý đã được xây dựng và  trình ban hà nh như: Nghị định vử xử­ phạt vi phạm hà nh chính trong lĩnh vực Internet; Аử án cung cấp dịch vụ bưu chính công ích và  cơ chế tà i chính đảm bảo dung cấp dịch vụ bưu chính công ích; Thông tư vử quản lý Blog...

9. Cục Quản lý phát thanh, Truyửn hình và  Thông tin điện tử­; Cục Thông tin đối ngoại được thà nh lập và  đi và o hoạt động

Cục Quản lý phát thanh, Truyửn hình và  Thông tin điện tử­ được thà nh lập nhằm thực hiện các hoạt động trong sự phát triển Phát thanh, Truyửn hình và  Thông tin điện tử­. Việc ra đời của đơn vị nà y sẽ thúc đẩy Lộ trình số hoᝠnhằm tối ưu hoá mạng phát sóng truyửn hình mặt đất sẽ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trước mắt và  lâu dà i, vừa tiết kiệm phổ tần số, vừa tạo thuận lợi cho việc phát triển các dịch vụ phát thanh, truyửn hình trong tương lai

Cục Thông tin đối ngoại là  đầu mối quản lý nhà  nước vử thông tin đối ngoại, là  đầu mối điửu phối, tổ chức thực hiện công tác thông tin đối ngoại của các bộ, ngà nh, địa phương... phục vụ đắc lực cho công tác thông tin đối ngoại của Аảng, Nhà  nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ sự nghiệp CNH “ HАH đất nước.

Cùng với sự ra đời của 2 Cục mới, Viện Công nghiệp Phần mửm và  Nội dung số, Trung tâm Hợp tác báo chí và  Truyửn thông quốc tế cũng được kiện toà n. Bộ Thông tin-Truyửn thông đang xúc tiến để thà nh lập và  sớm đi và o hoạt động 2 trường: Trường Аà o tạo bồi dườ¡ng cán bộ Thông tin và  Truyửn thông, Trường Аại học Thông tin-Truyửn thông quốc gia. Như vậy, tổ chức bộ máy quản lý nhà  nước của Bộ đã được hoà n thiện, đồng bộ theo đúng Nghị định 187/2007/NА-CP của Chính phủ.

10. Thống nhất một giá cước điện thoại nội hạt trên toà n quốc

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Аử án điửu chỉnh cước nội hạt, nội tỉnh. Bộ Thông tin và  Truyửn thông đã ban hà nh Quyết định gói cước cơ bản dịch vụ điện thoại cố định nội hạt tại nhà  thuê bao, có hiệu lực thi hà nh từ ngà y 01/01/2009. Mức cước thuê bao nội hạt cơ bản là  20.000 đồng/tháng/máy điện thoại (hoặc 667 đồng/ngà y/máy điện thoại) và  mức cước liên lạc nội hạt cơ bản là  200 đồng/phút. Vùng cước nội hạt được xác định là  trong phạm vi toà n bộ một tỉnh hoặc thà nh phố trực thuộc Trung ương.

Việc thống nhất giá cước điện thoại cố định nội hạt trong toà n bộ địa giới hà nh chính của một tỉnh, thà nh phố đã khắc phục tính bất cập trong việc áp dụng cách tính cước nội hạt, nội tỉnh hiện đại. Аiửu nà y cũng đảm bảo việc thực hiện quản lý nghiệp vụ giá cước viễn thông không phân biệt đối xử­ giữa các vùng miửn trong cả nước. Аây là  bước đột phá trong việc quản lý giá cước viễn thông theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. 

 

Minh Đức
code
Gửi

Tags

Xem thêm

Trang chủLiên hệ quảng cáo: 0902 063 363 Lên đầu trang