Thứ năm, ngày 30 tháng 5 , 2019

Sự lãnh đạo bằng chánh niệm hòa bình trong văn học Phật giáo Việt Nam

NHNSách Từ điển Phật học Hán - Việt xác định: “CHÍNH NIỆM (Thuật ngữ). Một trong Bát chánh đạo, lìa tà phân biệt và niệm thực tính của pháp. Luận Khởi tín: “Nếu tâm tán loạn thì nên thu lại trụ ở chính niệm”.

 Sách Từ điển Phật học Hán - Việt xác định: “CHÍNH NIỆM (Thuật ngữ). Một trong Bát chánh đạo, lìa tà phân biệt và niệm thực tính của pháp. Luận Khởi tín: “Nếu tâm tán loạn thì nên thu lại trụ ở chính niệm”. Quán kinh sớ của Tuệ Viễn: “Xu hướng nhập thực, gọi là Chính niệm” [Sđd, Tập I. Phân viện Nghiên cứu Phật học Xb, H., 1992, tr.250-254]...

Điều này được quán chiếu và thể hiện trước hết ở nhận thức bản chất khái niệm, xác định giá trị hằng xuyên và mô tả thực tiễn tiến trình lịch sử của sự lãnh đạo bằng chánh niệm vì hòa bình, an bình bền vững trong văn hóa -văn học Phật giáo Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và đương đại… 
 
Sự lãnh đạo bằng chánh niệm hòa bình trong văn học Phật giáo Việt Nam
Cuốn chuyên khảo Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh trong văn học Phật giáo Việt Nam.
 
Trên nền tảng Phật giáo phát triển từ đầu thời Bắc thuộc (thế kỷ II), bước sang thời độc lập, tự chủ (thế kỷ X), mối liên hệ thần quyền - vương quyền Đại Việt ngày càng được củng cố vững chắc. Nhà Phật học Nguyễn Lang xác định: “Thế kỷ thứ X là thế kỷ Việt Nam bắt đầu thực sự giành được quyền tự chủ…

Chính trong thế kỷ này mà đạo Phật tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Ðinh Tiên Hoàng định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu của thiền phái Vô Ngôn Thông, cho ông hiệu Khuông Việt Thái sư, chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự.

Cũng chính trong thế kỷ này mà vua Lê Ðại Hành mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi làm cố vấn chính sự. Các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp” [Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I. Tái bản. Nxb. Văn học, H., 1994, tr.230] (tác giả nhấn mạnh)… 
 
Với đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820), dường như tư chất thi sĩ đã sớm định hình trong ông một cách cảm nhận về cuộc đời, sớm ý thức về số phận và sự tồn tại của mỗi thân phận con người trong cõi đời mong manh, chập chờn bất định. Nỗi đau đời, thương đời tiếp tục theo đuổi ông trong những ngày ra làm quan và thể hiện bàng bạc trong cả  thơ chữ Hán, kiệt tác Truyện Kiều cũng như Văn chiêu hồn.

Được làm quan với thường nhân ai kia là cả một niềm khắc khoải, một dịp vinh thân và cơ may tiến thân. Riêng với Nguyễn Du, ông ngại ngần và cảm nhận nhiều hơn ở phía mặt trái, những hệ luỵ, ràng buộc, mất tự do. Nguyễn Du nhấn mạnh sự đối lập giữa hôm nay và hôm qua, giữa việc làm quan và cuộc sống tự tại, giữa sự bó buộc và tháng ngày lãng du:
 
Thử thân dĩ tác phàn lung vật,
 
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du?
 
(Tân thu ngẫu hứng)
 
(Thân này đã là vật trong lồng rồi,
 
Còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do nữa?)
 
(Đầu mùa thu ngẫu hứng)
 
Đặc biệt khi viết về chiến tranh, ông mừng vui khi đất nước thu về một mối, gián cách ngay cả với những ta - địch, chính - phản, thắng - thua mà đề cao đức hiếu sinh, vẻ đẹp hồn toàn của tạo hóa và cuộc sống thanh bình:
 
Nam Bắc xa thư khánh đại đồng,
 
Pháo đài hư thiết thổ thành đông.
 
Sơn băng thạch liệt thành do tráng,
 
Hán đoạt Tần tranh sự dĩ không.
 
Tạc giả đại khuy sinh vật đức,
 
Nhĩ lai bất quí sát nhân công.
 
Thanh bình thời tiết vô tranh chiến,
 
Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông.
 
(Pháo đài)
 
(Nam Bắc, xe và chữ viết, mừng đã giống nhau,/ Pháo đài bỏ không ở phía đông thành đất./ Núi lở đá tan, nhưng bức thành  còn vững,/ Nhà Hán nhà Tần tranh giành nhau, chuyện đã qua./ Trước kia thương tổn rất nhiều đến đức muôn vật sinh tồn,/ Giờ đây không quí cái công giết người nữa./ Trong buổi thanh bình không có chiến tranh/ Trâu bò cày bừa, chính giờ là lúc coi trọng nghề nông).

Phải ghi nhận rằng tâm thức Nhĩ lai bất quí sát nhân công (Giờ đây không quí cái công giết người nữa) của Nguyễn Du thật vô cùng siêu việt, hiện đại, đạt đến tầm cao giá trị nhân văn muôn thuở, đạt tới tính Phật, tinh thần yêu chuộng hòa bình của bậc hiền triết, minh triết. Có thể nói, nếu các bậc vua chúa, các nhà lãnh đạo cổ kim quán chiếu được tinh thần chánh niệm vì hòa bình như Nguyễn Du đã nêu thì thế giới đã trở nên an lạc hơn, bớt đi biết bao khổ đau, núi xương sông máu…
Sự lãnh đạo bằng chánh niệm hòa bình trong văn học Phật giáo Việt Nam
Tinh thần chánh niệm hòa bình thấm nhuần trong văn học Phật giáo Việt Nam.
  
Chúng sinh đều biết rằng, không có gì khác hơn, đạo Phật cũng do chính con người sáng tạo nên, do con người tạo lập các tổ chức Phật đoàn, xây dựng các hệ thống giáo lý kinh - luật - tạng.

Không có gì khác hơn, Phật giáo cũng nhằm tới lý giải những thách đố triết học muôn thuở như bản chất sự sống, lẽ sinh tử, con người đến từ đâu và đi về đâu, con người là gì giữa cõi tạm trăm năm và trước cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian.

Không có gì khác hơn, Phật giáo cũng nhằm tới giải quyết mối quan hệ giữa khả năng nhận thức và phương tiện hành đạo, giữa những mâu thuẫn trong xã hội và mơ ước đạt tới hạnh phúc trước thách thức những "tham, sân, si, ái, ố, hỷ, nộ" của cuộc đời và trong vòng chuyển hóa thời gian Quá khứ - Hiện tại - Vị lai của mọi kiếp chúng sinh. Không có gì khác hơn, Phật giáo cũng là một bộ phận hiện hữu trong cấu trúc văn hoá - xã hội, trong lịch sử phát triển tư tưởng và nền văn minh của xã hội loài người và tương đồng với những cách hình dung khác, những hệ phái tư tưởng và giáo phái khác…

Đây chính là cơ sở triết học để tìm hiểu sự lãnh đạo bằng chánh niệm Phật giáo vì hòa bình bền vững ở Việt Nam thời hiện đại, từ khoảng đầu thế kỷ XX đến nay.
 
Tính từ sau 1975, nhất là từ Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo (tháng 11-1981) với việc thành lập "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" đã tạo điều kiện thuận lợi cho chánh niệm Phật giáo đồng hành cùng dân tộc, hoằng dương Phật pháp, đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp tăng ni, Phật tử. Kể từ đó đến nay, hệ thống chùa chiền trong cả nước được coi trọng ở tầm mức di tích lịch sử - văn hóa - danh lam thắng cảnh đã được qui hoạch, tôn tạo, xây dựng và phát triển.

Điều đó cho thấy ý nghĩa văn hóa của hoạt động Phật giáo đã ngày càng được xã hội thừa nhận và tác động tích cực trở lại đời sống xã hội. Rõ ràng Phật giáo không thể làm thay các công việc thuộc về thể chế xã hội, sự quản lý hành chính, pháp luật, giáo dục... nhưng hoàn toàn có thể tham gia điều chỉnh khả năng nhận thức, khuyến khích điều thiện và ngăn chặn cái ác, lòng tham.

Tinh thần chánh niệm Phật giáo đã từng nhuần thấm trong lời nhạc Trịnh Công Sơn (1939 - 2001), từng hiện diện man mác trong tranh Bửu Chỉ (1948 - 2002), từng được nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thức nhận: "Bắt đầu từ truyện ngắn Sang sông trở đi, văn của tôi có gì đấy có ảnh hưởng Phật giáo, nó ngấm ngầm trong từng trang văn, nhiều truyện rất khó viết như: Ông Móng bà Móng, Sống dễ lắm, Thổ cẩm" [Nguyễn Huy Thiệp (2006), Làm nhà văn bây giờ khó lắm. Nguồn: https://www.tienphong.vn› Văn nghệ]...

Đồng thời với hình thức đi lễ chùa, hội chùa, hành hương thăm xứ Phật, lễ báo hiếu, lễ xá tội, thắp hương tuần rằm mùng một mang ý nghĩa tâm linh đã được kết hợp, chuyển hóa bằng hoạt động từ thiện, cúng dường, phát tâm cứu giúp người nghèo, kể cả những vấn đề an sinh xã hội (bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội)...

Điều quan trọng hơn, những khả năng thắp sáng hiện hữu tinh thần chánh niệm Phật ở mỗi cá nhân không đợi đến khi gặp vận hạn, khi tuổi đã sang chiều, vãn chiều, xế bóng, gần cận lúc cuối đời mới biết sám hối, tỉnh ngộ mà cần được thức nhận ngay từ thời tuổi trẻ, từ lúc đang còn sức mạnh, lúc đang ở đỉnh cao quyền lực, tột đỉnh vinh quang. Con người, đặc biệt người lãnh đạo, giới lãnh đạo và thể chế lãnh đạo nói chung, cần thấu hiểu được sức mạnh cũng như bản chất những giới hạn và sự hữu hạn của đời người mới có thể giải thoát khỏi những tham dục vật chất, ác tâm, vị kỷ... 

Khi đề cao tư duy lãnh đạo bằng chánh niệm vì hòa bình, vì sự an bình, hòa hợp, giao lưu, hội nhập, ổn định, hợp tác, phồn vinh, phát triển cũng tức là cần nâng cao ý thức giác ngộ, tự giác, giác tha, kịp thời lên tiếng phê phán tư tưởng và hành động phi chánh niệm, phản tiến bộ, phản nhân văn, gây bất hòa, chia rẽ.

Một năng lực nhận thức và thực hành tôn giáo đạt tới chất lượng đời sống tâm linh như thế chính là những giá trị nhân văn đích thực, góp phần kiến tạo tâm thế lãnh đạo bằng chánh niệm Phật giáo vì hòa bình bền vững, có trách nhiệm với nhân dân, đất nước và chúng sinh toàn thế giới… 
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn
code
Gửi

Xem thêm

Trang chủLiên hệ quảng cáo: 0902 063 363 Lên đầu trang