Nhà thơ Thanh Tùng với ký ức một thời hoa đỏ

Nguyễn Việt Chiến| 04/01/2020 10:45

Tôi nghĩ mỗi một nhà thơ đích thực, nổi tiếng đều tìm thấy miền đất ký thác của thơ mình trong cuộc đời sáng tạo của riêng họ dẫu hành trình thơ mở ra ở nhiều miền sống khác nhau, nhiều thể tài khác nhau, nhiều giai đoạn khác nhau, nhiều thi tầng khác nhau.

Tôi nghĩ mỗi một nhà thơ đích thực, nổi tiếng đều tìm thấy miền đất ký thác của thơ mình trong cuộc đời sáng tạo của riêng họ dẫu hành trình thơ mở ra ở nhiều miền sống khác nhau, nhiều thể tài khác nhau, nhiều giai đoạn khác nhau, nhiều thi tầng khác nhau. Và, điều tôi muốn nói tới chính là chất thơ của những miền sống đã làm nên một đặc trưng phổ quát, một định hình ngôn thi, một định tính phong cách… của miền thi ca ấy. Như thể nhiều năm qua, dư luận văn học thường nhắc tới chất thơ Hà Nội, chất thơ xứ Đoài, chất thơ Kinh Bắc rồi chất thơ Hải Phòng, chất thơ miền Trung Thanh - Nghệ - Tĩnh, chất thơ Bình Định - Phú Yên đến chất thơ xứ Huế, chất thơ Sài Gòn, chất thơ Nam Bộ…

 Với tuyển thơ “Còn đây một thời hoa đỏ” của cố nhà thơ Thanh Tùng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành, qua 159 bài thơ trong tập, tôi cho rằng cái phong vận của người thơ tài hoa ấy có hai nét nổi bật đẫm chất thơ - chất sống Hải Phòng đó là sự phóng khoáng trong nhịp điệu thi ca và sự phiêu bạt trong cảm xúc và suy ngẫm. Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng đi khá nhiều nơi, viết về nhiều miền đất khác nhau nhưng thành phố Hải Phòng của một “Thời hoa đỏ” vẫn là một miền thi ca giàu chất sống lãng mạn dữ dội và ký thác tâm tưởng nhiều nhất đối với ông. Trong bài thơ “Hải Phòng - muối của đời tôi” Thanh Tùng chia sẻ:

Tôi để lại Hải Phòng giàu có của tôi
Bước ra cửa là rơi vào trái tim bè bạn
Cùng ngọn gió tươi mặn chát của biển khơi
Với tôi ngày nào cũng Tết
Tôi đã mang thơ trải khắp con đường
Thơ có máu của những ngày bom đạn
Dồn lên cùng ngọn lửa lò nung
Chắt ra từ giọt rượu đêm
Quán vắng bạn bè khật khưỡng…
Rồi:

Tôi đã làm thơ từ sau xe bò chở gạch
Đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm
Tiếng ghi-ta ngập ngừng ven bờ sông Lấp
Rồi bay lên sóng sánh ánh sao trời 
Hải Phòng ơi ai cũng đã an ủi tôi
Bằng cách yêu của thợ
Đến vỉa hè cũng nóng lên mời gọi
Trong những ngày tưởng không đứng lên được nữa
Hải Phòng ơi tôi đã tan vào Người
Trong ngổn ngang mãnh liệt
Để hôm nay dù ở nơi nào
Cũng không nhạt nhẽo
Vì Người là muối của đời tôi

 Qua những câu thơ trên, có thể nói, thơ Thanh Tùng là thứ thơ đậm đặc chất sống, tươi rói chất sống mà cũng trầm luân chất sống, mặn mòi chất muối của Hải Phòng. Hơi thở đời sống cần lao nhọc nhằn, lấm láp của thành phố những tháng năm ấy cứ hiện lên trong thơ ông những nỗi niềm trở trăn, day dứt:

Thành phố gầy như ngực mẹ tôi
Tôi không dám mạnh chân sợ mặt đường long nhựa
Không dám cả cười buông thả
Sợ bao vết thương bom đạn vẫn chưa lành
Bờ sông khúc khuỷu hoang sơ
Nham nhở cỏ xanh tràn mép phố
Những em gái thập thò sau khung cửa
Ánh mắt như màu rượu lâu ngày…
(Trở về)  

Hải Phòng lưu dấu ký ức tháng năm trong trái tim nhà thơ không chỉ là “Tiếng búa khắc vào hồn phố nhỏ/Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường” cùng với “Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau” mà thành phố quê hương còn thắp lên một tình yêu không bao giờ nguôi cũ trong đời thơ phiêu bạt của ông:

Tôi có thể lại yêu thêm lần nữa
Với trái tim nặng trĩu nhọc nhằn
Bao nhiêu xanh tôi đã để lại cho màu liễu bên bờ hồ 
Tam Bạc
Máu đã bừng lên mỗi sớm nơi đây
Tôi vẫn khát những mặt hè như cậu bé ngày xưa
Những tên phố rộn lên trong tôi niềm say lang bạt
Rồi mai đây ở bất cứ nơi nào
Tôi cũng chỉ thấy mình chen chân trên đường Cầu Đất
Hoa bằng lăng tím đến dại khờ 
(Hải Phòng lúc ra đi)

Có thể nói trái tim nhà thơ như một bảo tàng trữ tình của những hình ảnh kỷ niệm thân thương về  một dĩ vãng Hải Phòng, cũng là nơi chất chứa những xúc động yếu đuối mà chân thành khi ông phải chia tay thành phố trước một chuyến đi rất xa về phương trời khác:

Mới biết mình yếu đuối nhường nào khi phải ra đi
Nếu tôi không vội nghiến răng thì cơn gió 
cũng làm cho nhàu rối
Mới thèm làm sao những em thơ nhởn nhơ quanh 
những gốc bàng già điềm tĩnh
Những cô gái bước đi như hôn lên mặt hè
Cả những người thợ đang tất bật áo quần bê bết mỡ dầu
Tất cả nhìn tôi với tự hào và thương hại
Tôi hiểu từ đây tất cả là của họ từ nhành cây ngọn cỏ đến vệt mưa xám xịt đã cất giữ của tôi bao dĩ vãng.

Rồi sau những khoảnh khắc yếu đuối phút chia tay, Thanh Tùng chợt nhận ra trong cuộc đời phiêu dạt của mình những câu thơ xa xót, những câu thơ phiêu bạt của một người thơ luôn đau đáu một tình yêu máu thịt với thành phố quê hương với những liên tưởng đầy ám ảnh:

Chỉ lát nữa thôi tôi sẽ trắng tay
Cái đồng hồ nhà ga như khuôn mặt viên quan tòa 
nghiêm khắc
Những cánh cửa nhà ga cũng cương quyết mở ra rồi
Tiếng còi tàu bàng hoàng như tiếng thét chính hồn tôi
Tôi rối lên ôm vào tất cả
Hết thứ này lại thêm thứ nữa
Như người khuân vác tham lam
Tôi xin xỏ, giằng co rồi thương lượng
Để mai trên quê người không quá cô đơn
(Ở ga Hải Phòng)

Đa phần những bài thơ trong tập “Còn đây một thời hoa đỏ” của nhà thơ Thanh Tùng đều nằm trong mạch chảy ngầm của những tiểu - tự - sự với giọng thơ trầm buồn, giầu chia sẻ, khơi gợi và gần gũi, thân thiết với con người. Thanh Tùng đã nâng nghệ thuật thi ca thành một cách viết tự thân giàu phẩm cách thi sĩ, nó giản dị, hồn nhiên và tươi nguyên như chính hơi thở đời sống xung quanh đã được ông đưa vào thơ theo cách giàu cảm xúc nội tâm nhất, điều mà không phải nhà thơ nào cũng có được.

Có lẽ về mặt kỹ năng viết, Thanh Tùng là một trong những bậc thầy của thơ trữ tình tự do mà bài thơ “Thời hoa đỏ” là một dẫn liệu bên cạnh những bài thơ đặc sắc khác của ông. Ở những bài thơ như thế, nhịp điệu dài ngắn của câu thơ lại phụ thuộc vào nhạc điệu nội tại của những tâm sự mà nhà thơ muốn gửi gắm, muốn chuyển tải như trong một bài thơ viết về “Hà Nội ngày trở về” của ông đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc:

Hà Nội ơi tôi đã cất giữ người cẩn thận
Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhầu máu 
vẫn âm thầm chảy
Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân
Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác
Tôi lại về đánh cắp
Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên
Dẫu một mảnh lá vàng còn ướt nước hồ Gươm
Tôi rung lên mỗi khi chạm tới bóng cửa ô
Như được chạm vào vai gầy áo mẹ
Tôi bé nhỏ và tôi vẫn thế
Trái tim luôn xao động
Như bên trong đầy ắp sóng Hồ Tây
Vội vã trở về, vội vã ra đi
Chẳng kịp nhận ra từng mặt phố…
(Hà Nội)

Trong bài viết ngắn này về thơ Thanh Tùng, tôi muốn phác họa đôi nét cái chất sống - chất thơ Hải Phòng trong nhiều bài thơ của ông để thấy thành phố cảng của cần lao, phóng khoáng nơi ông sinh ra và lớn lên đã ngấm vào máu thịt, vào từng hơi thở của thi ca ông với nhiều nỗi đời, nỗi người trong gian khó, nhọc nhằn nhưng vẫn vượt lên bền bỉ một chất sống mãnh liệt của những con người không chịu cúi đầu, không chịu thua cuộc và luôn gắn bó, thủy chung với quê hương:

Tôi vẫn tin có một ngày trở lại
Bao già nua trút ở ngoại ô
Để lại chạy với bàn chân tinh khiết
Phố Hàng Cau rồi phố Hàng Song
Những đường phố trong như nước mắt
Sông Đào lại chảy vào tôi nguồn mơ mộng
Những cánh buồm nâu đã viết lên tôi nỗi buồn thứ nhất
Tôi lang thang vá víu đã nhiều
Bao nhiêu gió chẳng làm đỡ khát
Bao nhiêu nắng chẳng làm mặn lại
Chỉ quê hương đau đáu vẫn còn xa
(Quê hương)

Theo tôi, sở dĩ thơ Thanh Tùng có một sức sống ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu chiêm nghiệm và ý tưởng mới lạ trong thi ca là do phẩm chất thi sĩ khá đậm đặc, mãnh liệt mang dấu ấn phong cách của tài năng ông với những câu thơ đã chạm vào được mạch nguồn sâu sa và tươi mới của đời sống con người, đời sống thiên nhiên, đời sống quê hương. “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng/ Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh/ Chẳng cho lòng ta nguôi/ Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/ Về cái vẻ thần kỳ của ngày qua/ Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ…”. Những câu thơ giản dị, trong suốt này ngân vang trong tâm tưởng người đọc những cung bậc tình yêu về một miền sống, miền thương yêu nơi mỗi chúng ta đã từng đi qua và luôn khát khao trở lại. Trong hành trình thơ của Thanh Tùng không thể không nói tới thơ tình, đây là một mảng thơ đặc biệt ghi dấu ấn sâu lắng và nồng nhiệt của một tâm hồn thi sĩ cháy bỏng yêu thương và luôn tụng ca cái đẹp nơi ông mà bài thơ “Thời hoa đỏ” đã đọng lại như một trong những bài thơ tình hay nhất của thi ca đương đại Việt Nam.

Sau những năm dài đầy biến động và sống hết mình cho thi ca, một trong những bài thơ cuối cùng Thanh Tùng viết trước khi giã biệt cuộc đời gian truân và giàu mộng mơ thi sĩ của ông là bài “Khi nhà thơ đi xa” với những câu thơ dự cảm đầy tâm trạng: “Anh đã đi xa/ Chỉ còn những câu thơ ở lại/ Những câu thơ tê tái/ Chạy như lá khô/ Viền tang trên trán phố chiều nay”. Tôi như thấy trong bài thơ này, Thanh Tùng đã viết về chính mình, về một nhà thơ đã sống một cuộc sống không dễ dàng gì trong những tháng năm lao khổ đầy biến động cùng với bạn bè, với thành phố Cảng quê hương. Ông lo lắng, nếu thành phố ấy thiếu một người thơ như ông thì lấy “Ai đi đón mùa thu ngoài đồng nội?/ Ai vẽ lối cho mùa xuân trở lại?/ Ai cãi cho lũ trẻ cầu bơ?/ Ai nâng lên cánh hoa vừa rụng?/ Trời thấp xuống không gian chật chội/ Đàn ai từng giọt âm thầm”. Nhà thơ với nỗi lo của trái tim nhân hậu trước khi ngừng đập đã quặn lên nỗi đau đầy xúc động và ngậm ngùi khi chợt nhận ra: “Đời chỉ dành anh chỗ xót xa/ Anh vẫn ghìm từng câu thơ một/ Trận chiến này hụt sức/ Anh vẫn cần cho phía ngày mai/ Anh đã đi xa/ Gió nói thế và hoa nói thế/ Có mang thơ vào cõi xanh xa”.

Có thể nói, với bài thơ trên, trước lúc ra đi, Thanh Tùng vẫn như thấy mình còn cần cho cuộc chiến “chống lại cái ác và cứu rỗi cái đẹp” ngày mai như một tráng - sĩ - thơ giàu chất sống phóng khoáng, phiêu bạt và thấm đẫm chất Hải Phòng nơi thi ca ông.
(0) Bình luận
  • Đào bích ngược ngàn
    Đã là ba mươi tháng Chạp. Cây đào phai già bên con dốc từ trạm y tế xã Mường Va lên Trạm biên phòng 19 đã khoe những bông đầu tiên. Không ai biết cây đào đã bao nhiêu tuổi. Chỉ biết rằng trên cái gốc vâm váp sần sùi của cây là vết tích của những cành to bằng cánh tay người đã bị gãy do thời gian, là mấy cành nhỏ còn vết dao chặt do cái thú chơi cành cắm lọ của mấy người miền xuôi năm trước và cả cái cành lả thế hoành duy nhất và đẹp nhất vào cuối năm ngoái.
  • Khát vọng người lính trẻ
    Tôi tìm gặp Nho bên bờ sông. Nho đang ngồi xếp bằng, cúi mặt, tay xé mấy cọng lục bình. Nho buồn rười rượi.
  • Cô Hardy  của chúng tôi
    Tôi bắt đầu cuộc sống là một đứa trẻ không có khả năng học tập. Tôi từng bị chứng rối loạn cảm nhận còn được gọi là chứng khó đọc. Một đứa trẻ mắc chứng khó đọc thường học khá nhanh từ ngữ nhưng nhìn nhận chung không như những người khác.
  • Cô giáo dạy văn
    Cô Mậu là giáo viên dạy văn lớp chúng tôi. Cô ở độ tuổi trung niên, người hơi đậm, giọng khàn, mắt sắc, ít cười. Gần đến giờ kiểm tra viết, chúng tôi thường căng não hơn dây đàn bởi phải thực hiện một trong hai điều: Thứ nhất là phải thuộc lòng những bài cô cho chép để trả chữ (việc này khó). Thứ hai là tìm “kế”.... thoát điểm thấp dẫu không thể thuộc lòng (việc này khó hơn việc thứ nhất).
  • Người mẹ
    Bà Lành ngồi bên hiên nhà, lấy chiếc nón quạt phẩy nhè nhẹ lên gương mặt đầy mồ hôi. Tiếng thở dài não nề, lặng lẽ trôi tuột trong ánh chiều vàng vọt. Nghĩ đến ngày mai, khi người ta sẽ đưa xe đến đón Khôi về nhà, lòng bà không thôi xót xa.
  • Lẵng quả thông
    Truyện ngắn của K.Paustovsky
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội và nỗi nhớ
    “Hà nội ơi, mong được bình an/ Hơn nửa đời tôi nợ người nhiều lắm/ Dẫu chẳng sinh ra nhưng là nơi tôi sống/ Và mỗi khi xa lại nhớ giống quê mình”.
  • "Chuyện của Vũ": Tự sự của người họa sĩ
    “Chuyện của Vũ” là tên gọi của chuỗi triển lãm, giới thiệu tác phẩm của họa sĩ Trần Trọng Vũ tại Ánh Dương Art Space và tại Hanoi Studio Gallery, kéo dài từ tháng 12/2022 đến hết ngày 25/2/2023.
  • Triển lãm tranh “Bốn mùa tịnh an” của họa sĩ Vũ Tuyên
    Từ ngày 6/2 đến ngày 15/2/2023, tại tầng 1 Nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, họa sĩ Vũ Tuyên giới thiệu tới công chúng các tác phẩm mới của mình trong triển lãm mang tên “Bốn mùa tịnh an”.
  • Kinh nghiệm tham quan Văn Miếu Quốc Tử Giám
    Được xem là Trường Đại học đầu tiên Việt Nam, Văn Miếu Quốc Tử Giám không những là chứng nhân cho ngàn năm văn hiến mà còn là một quần thể kiến trúc cổ kính và độc đáo. Trước đây, Văn Miếu là nơi dựng các tấm bia đá ghi danh các hiền tài đỗ đạt trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, tiến sĩ. Ngày nay, Quốc Tử Giám đã trở thành địa điểm tham quan du lịch nổi bật thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
  • Sắc màu Tây Tạng độc đáo của chùa Long Quang
    Được xây dựng theo lối kiến trúc Kim Cương Thừa cùng bảng màu đa sắc như nhiều ngôi chùa truyền thống ở Nepal hay Tây Tạng, chùa Long Quang là nơi thu hút nhiều phật tử theo phái Mật Tông.
Đừng bỏ lỡ
Nhà thơ Thanh Tùng với ký ức một thời hoa đỏ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO