Thứ hai, ngày 13 tháng 1 , 2020

Văn học Hà Nội: Hành trình sáng tạo tiếp nối sau 1000 năm

NHN

 Văn học Hà Nội: Hành trình sáng tạo tiếp nối sau 1000 năm


Tiếp nối mạch nguồn…
Trong khoảng thời gian mà thế hệ chúng ta tiếp cận được, văn Việt nói chung, Hà Nội nói riêng khởi xuất từ những áng văn thơ của cụ Tản Đà (1889 - 1939), Nguyễn Nhược Pháp (1914 - 1938), Nguyễn Bính (1918 - 1966), Quang Dũng (1921 - 1988). Tiếp sau đó là Văn Cao (1923 - 1995), người đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thi ca; Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) với những âm sắc mới lạ, đã vượt khỏi cách cảm và cách nghĩ của số đông công chúng thơ đương thời, rồi Hoàng Cầm nuột nà, đắm đuối; Thạch Lam (1910 - 1942) ngọt ngào, đằm thắm; Vũ Bằng (1913 - 1983) với thương nhớ của riêng Hà Nội; Tô Hoài hóm lẹm; Nguyễn Tuân (1910 - 1987) kiêu sa, đài các; Nam Cao (1917 - 1951) sống mòn; Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) chân chất, giày vò; Rồi thế hệ tiếp nối là hàng loạt truyện của Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường,… lúc đầu thật sự đã gây sốt trên văn đàn không chỉ của riêng Hà Nội mà khắp cả nước và “vượt biên” ra nước ngoài. 

Ngay sau sự kiện trọng đại của Thủ đô và cả nước: tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thành phố tổ chức Tổng kết Cuộc vận động sáng tác Văn học nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến đồng thời phát động đợt sáng tác tiếp nối xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Đây là dấu ấn quan trọng, một luồng gió mới tạo bước chuyển lớn về nhận thức sáng tác và quy mô xây dựng tác phẩm cho cả lĩnh vực văn học nghệ thuật, trong đó văn chương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu.

Đây cũng chính là thời kỳ bắt đầu của một xã hội công nghệ thông tin. Mạng thông tin điện tử du nhập và phát triển rầm rộ như không có gì có thể ngăn cản nổi. Hình thức sáng tác và truyền tải - nhất là đối với tác phẩm văn học bước sang khúc ngoặt lớn, đánh dấu một mốc lịch sử như một cuộc cách mạng của thị hiếu bạn đọc tiếp cận tác phẩm và tác giả. Tuy vậy, theo chúng tôi, phần tác phẩm có giá trị cốt lõi vẫn nằm ở thời kỳ sáng tạo văn học nghệ thuật ngàn năm Thăng Long. Các tác phẩm mới vừa chịu trách nhiệm kế thừa lại vừa chuyển mình sang vận tốc cao nên phần nào ảnh hưởng đến bề dày chất liệu và quy mô tác phẩm. Đó còn chưa kể đến sự vận hành của cơ chế kinh tế tác động trực tiếp đến giá trị đời sống sáng tác…

Có thể nói, Hà Nội là nơi tập hợp điển hình nhất về đội ngũ tác giả. Về cơ bản, các tác giả là nhà văn Việt Nam hội tụ, sống và viết ở Thủ đô Hà Nội chiếm số lượng đông đảo nhất. Các cơ quan quản lý chuyên ngành, các nhà xuất bản, phát hành cũng chủ yếu là ở đây. Đặc biệt, đây cũng là thời kỳ hợp nhất văn nghệ Thăng Long và văn nghệ xứ Đoài. Lại nữa, trong đội ngũ tác giả là nhà văn Việt Nam sinh sống tại đây, nhiều người còn đồng thời là hội viên Hà Nội, chiếm tỷ lệ 2/5 tổng số gần 700 hội viên. 

Phát huy thành tựu và trẻ hóa sáng tác
Khép lại thời kỳ sáng tác ngàn năm Thăng Long, lực lượng sáng tác Hà Nội tiếp tục chuyển mình với xu hướng cởi mở, nhanh nhạy. Tác phẩm của họ giàu sáng tạo, trội về cá tính, đa dạng, nhiều màu sắc, ứng với  đời sống xã hội đang nhanh chóng đổi mới.

Đó là bước đi khá suôn sẻ. Lực lượng sáng tác của Hà Nội mang đặc điểm riêng của vị trí trung tâm văn hóa -  xã hội của đất nước, nơi mang nhiều yếu tố mới, nhạy cảm, nơi tập trung nhiều tên tuổi, nhiều thế hệ truyền thống tiếp nối cùng về hội tụ. Thật khó mà phân định được phạm vi nào hoặc đến giới hạn nào là thành tựu riêng của các nhà văn Hà Nội.

Những năm gần đây, sự chuyển giao thế hệ sáng tác rõ nét hơn. Các tác giả nổi trội trong thời kỳ đánh Mỹ lắng lại và chậm dần theo thời gian. Tuy nhiên có một ngoại lệ từ thế hệ đó với một số bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ về các vương triều Lý - Trần của Hoàng Quốc Hải, Nắng kinh thành của Siêu Hải, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh. Các tiểu thuyết này đều đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và giải thưởng văn học Thăng Long. Các tiểu thuyết Hồ Quý LyĐội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh được các nhà xuất bản tái bản hàng chục lần. Những năm này, một số tác phẩm truyện và tiểu thuyết của Lê Minh Khuê, Nguyễn Văn Thọ, Hồ Anh Thái và Tạ Duy Anh... nổi bật với những cung bậc đa dạng đời sống, ký ức và tình yêu. Các tác phẩm này giữ nhịp cho dòng chảy sáng tác chung ở quãng đổi khúc cần thiết. Một số nhà thơ có uy tín lại đồng điệu với thời cuộc bằng các sáng tác chiêm nghiệm, triết lý như Hữu Thỉnh: Đi suốt cả ngày thu chưa về tới ngõ; Bằng Việt: Chấp theo lối cũ là không đúng; Vũ Quần Phương: Nghe những lời vô nghĩa/ lại thành lời thấm thía nhân gian; Vương Trọng: Thì quý nhất khoảng lặng im...

Một số tác giả đã và đang tập hợp tác phẩm để làm tuyển tập, tổng tập. Đặc biệt ở nhà thơ Gia Dũng - một thời vang mãi bài ca Trường Sơn, nay ông miệt mài định vị lại các mảng chủ đề. Tập trung thơ của nhiều tác giả, làm thành các bộ thơ vài chục ngàn trang, đạt tới một kỷ lục. Một loạt các tác phẩm đủ thể loại: Văn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Việt Hà; thơ của Dương Kiều Minh,Trần Quang Quý, Lê Cảnh Nhạc, Vũ Từ Trang, Đặng Vương Hưng,  Giáng Vân; phê bình tiểu luận của Phạm Khải, Lê Thành Nghị, Trần Đăng Suyền, Bùi Việt Thắng; dịch văn học nước ngoài của Dương Tường và Lê Bá Thự... ra mắt bạn đọc và được dư luận đánh giá cao.

Khi các nhà văn lớp trước với những tác phẩm dài hơi như đang chững lại thì lực lượng trẻ với những sáng tác nhanh, ngắn gọn bắt đầu đáp ứng thị hiếu mới. Thật tự nhiên, họ tiếp cận văn chương gần như song hành với các nhu cầu thông tin đa chiều, các quan niệm và khái niệm mới của xã hội. Xen vào đó là phê bình, theo cách nhìn mới, không đơn điệu, hai tác giả song hành: Nguyễn Thị Minh Thái và Phạm Xuân Nguyên. Họ muốn tránh lối phê bình giản lược và xuôi chiều. Những bài bình cập nhật đã trở thành tác nhân giúp các cây bút trẻ tự tin thể hiện các sáng tạo mới.

Tác giả thơ xuất hiện nhiều, thậm chí chia thành các “phái” khác nhau. Tuy vậy, hướng thơ mới được bạn đọc Thủ đô đón nhận rất rõ. Sau ánh ngày tinh khôi của Hoàng Nhuận Cầm, sự chuyển động bề bộn và quyền phép của Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Linh Khiếu là tiếp nối của những tác giả trẻ hơn, có thể từ Hữu Việt, Vi Thùy Linh, tiếp đến Phan Huyền Thư và Nguyễn Quang Hưng... có lúc, họ cũng chưa hẳn đã nhận được sự hưởng ứng. Song, bản năng thơ không thay đổi, họ đang tạo dựng một cấu trúc mới, một bố cục mới thật mở, xác lập một giai đoạn mới của thơ. Đặc điểm sáng tác của họ là lối viết tương tác với cách cảm, cách nghĩ của thời điểm, tác phẩm thể hiện cái nhìn mới, không câu nệ vào bất kỳ một khuôn mẫu nào.

Cũng cần được nói thêm, khá nhiều giải thưởng hàng năm thuộc về những tác giả chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội như Đỗ Phấn với tập truyện Dằng dặc triền sông mưa và Đoàn Ánh Dương với tập lý luận văn học: Không gian văn học đương đại. Năm 2014 - 2015, trước sự kiện lớn về bảo vệ chủ quyền của ta ở biển Đông, lực lượng văn nghệ sĩ Hà Nội đã đồng loạt lên tiếng bằng bản Tuyên bố chung và bằng Thư ngỏ. Nhiều tác phẩm tham góp có sức nặng, đặc biệt là những sáng tác chủ đề Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến và Tổ quốc gọi tên mình của Nguyễn Phan Quế Mai đoạt giải thưởng từ các tổ chức sáng tác chuyên nghiệp hay các tổ chức xã hội.

Trong 10 năm qua, đội ngũ các nhà văn Hà Nội đã được Đảng, Nhà nước ta đánh giá giá cao về phẩm chất và sáng tạo của họ. Tác phẩm của họ đã thực sự là những đóng góp cao quý trong sự nghiệp đổi mới của toàn Đảng, toàn dân ta. Họ đã góp phần quan trọng phản ánh sâu sắc về đời sống lao động, chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Thủ đô và Tổ quốc; sự nghiệp xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh. Nhiều nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đã vinh dự được trao tặng các danh hiệu cao quý với 2 Giải thưởng Hồ Chí Minh và khoảng 25 Giải thưởng Nhà nước.
Bùi Việt Mỹ
code
Gửi

Xem thêm

Trang chủLiên hệ quảng cáo: 0902 063 363 Lên đầu trang